Tìm Kiếm:

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
HOTLINE
ĐT:
(+84 8) 9330665
Fax:
(+84 8) 9330664
Hỗ trợ khách hàng:
Chiến lược phát triển

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

  - Vinafruit nỗ lực phát triển ngành trái cây VN để hội nhập thị trường nông sản thế giới, phát huy tối đa tính đặc thù ngành trái cây VN (khí hậu, đất đai, văn hóa, truyền thống ...) đồng thời tiếp thu tính hiện đại của ngành rau quả thế giới.
Vinafruit
phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh ngành trái cây Việt Nam bằng các giải pháp nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, đồng thời chú trọng sản xuất sản phẩm giá trị cao, trái cây hữu cơ phục vụ thị truờng cao cấp góp phần phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu, nâng cao thu nhập người sản xuất trái cây, đáp ứng các nhu cầu đa dạng và ngày càng tăng của người tiêu dùng.

- Để đạt mục tiêu đó, Vinafruit đề ra một số chiến lược hành động như chiến lược liên kết ngành trái cây, chiến lược hội nhập, chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh ngành trái cây, chiến lược xây dựng thương hiệu, chiến lược đào tạo, chiến lược xây dựng và phát triển thị trường trái cây nội địa làm cơ sở cho  xuất khẩu, chiến lược giống cây ăn quả (giống nội địa và giống nhập khẩu Chiến lược trồng trái cây hữu cơ, chiến xây dựng hợp tác xă chuyên ngành trái cây, chiến lược công nghệ sau thu hoạch, chiến lựơc hiện đại hóa công nghiệp chế biến, chiến lược phát triển công nghệ thông tin ngành trái cây... Chiến lược được phân thành ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Để thực hiện chiến lược có kết qủa nhất thiết phải có sự hỗ trợ của chính phủ, sự tham gia tích cực của hội viên, của doanh nghiệp trái cây và sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức và doanh nghiệp quốc tế.

 

 

 

THỰC TRẠNG NGÀNH RAU QUẢ VIỆT NAM –GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
Hiệp Hội Rau quả Việt Nam

I. Thực trạng:

1- Những yếu tố tác động thúc đẩy / hạn chế sự phát triển xuất khẩu rau quả:

Thúc đẩy

Hạn chế

- Nhu cầu thị trường thế giới tăng.
- Các hiệp định thương mại song phương và đa phương.
- Năng lực cạnh tranh của Việt Nam.
- Có chiến lược đúng về sản xuất và khách hàng.
- Ban hành tiêu chuẩn và được chứng nhận quốc tế.
- Gía trị tăng thêm trong sản phẩm.
- Công nghệ sau thu hoạch.
- Các hiệp định về bảo vệ thực vật.
- Nguồn cunng ứng manh mún, hệ thống kho lạnh và quản lý chất lượng bị giới hạn.
- An toàn thực phẩm, vệ sinh thực phẩm, truy nguyên nguồn gốc, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
- Chi phí sản xuất/ chỉ số giá cả tăng lên và sự tăng giá của đồng Việt Nam.
- Các qui định về bảo vệ thực vật của một số nước nhập khẩu chủ yếu.
- Hao hụt và tổn thất.

 

Việt Nam sản xuất rau quả đạt sản lượng lớn ( đứng thứ 5 Châu Á) nhưng chủ yếu là tiêu thụ trong nước (85%) xuất khẩu được rất ít.

2- Xuất khẩu:

a- Mặt mạnh:
- Kim ngạch xuất khẩu từ năm 2003 đến nay tăng trưởng khá đều (năm 2003 đạt 151 triệu; 179 triệu; 235,5 triệu; 259 triệu; 305 triệu và dự kiến 2008 đạt 350 triệu USD)
- Nhà xuất khẩu đã chịu đầu tư mở rộng tìm kiếm nghiên cứu thị trường xuất khẩu, đến nay xuất khẩu đến 50 quốc gia trên thế giới tronng đó chủ yếu là các nước EU, Nhật Bản, Đài Loan, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc.
- Doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng về quản lý chất lượng sản phẩm, an toàn VSTP nên một số lớn doanh nghiệp chế biến đã dược cấp chứng nhận HACCP, ISO, BRC, Kosher …
- Doanh nghiệp cũng quen dần tập quán mua bán hàng hóa của các thị trường chính ( EU, Hoa Kỳ)
- Sản phẩm rau quả Việt nam xuất khẩu ngày càng đa dạng hơn, mới lạ hơn (có thêm gấc đông lạnh, puree vải, hỗn hợp quả trong nước chanh dây, puree thanh long, …)

b- Mặt yếu:
- Kim ngạch xuất khẩu rau quả những năm gần đây tăng trưởng khá đều nhưng vẫn chiếm tỉ trọng rất nhỏ so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
- Kim ngạch xuất khẩu tăng chủ yếu là do giá trong khi số lượng tăng ít hơn (ngược lại với Trung Quốc)
- Xuất khẩu tươi rất ít (chiếm tỉ trọng 2,5%) so với rau quả chế biến (chủ yếu xuất khẩu thanh long tươi xuất khẩu các nước trong khu vực).
- Chưa đủ khả năng đáp ứng các đơn đặt hàng lớn trong khi năng lực chế biến của doanh nghiệp còn thừa rất nhiều.
- Còn khiếu nại về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm (ruồi đục quả, dư lượng thuốc sâu, hàm lượng kim loại nặng, chất lượng bao bì, …)
- Rất ít đầu tư FDI vào lĩnh vực rau quả. Doanh nghiệp e ngại đầu tư vùng nguyên liệu
- Chế biến đòi hỏi sử dụng nhiều nhân công
- Hầu hết xuất khẩu dưới nhãn mác của nước ngoài
- Còn lệ thuộc nhập khẩu nhiều vật tư đầu vào (bao bì, giấy, …)
- Chi phí vận chuyển đường biển, đường không cao hơn so với Thái Lan và Trung Quốc.

Mục tiêu chương trình phát triển rau hoa quả 10 năm (1999 -2010) của Chính Phủ phấn đấu đạt mức kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD. Chương trình đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, mở rộng diện tích canh tác, chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng tạo chuyển biến tăng nhanh sản lượng và diện tích canh tác. Mặt khác, do quá trình phát triển này mang nặng tính tự phát, manh mún nên đã bộc lộ những mặt yếu như: giá thành cao, lúc trồng ồ ạt, lúc chặt hàng loạt, chất lượng thấp và không ổn định, thiếu an toàn, tổn thất sau thu hoạch lớn, tỉ lệ đưa vào chế biến thấp mặc dù tổng công suất chế biến đã được đầu tư nâng từ 150.000 tấn lên gần 300.000 tấn SP/năm.
 
            Nhìn lại, chúng ta thấy việc sản xuất và tiêu thụ trái cây của nước ta còn quá khiêm tốn so với tiềm năng và so với một số quốc gia trong khu vực có điều kiện tự nhiên tương tự (Thái lan, Philippine, Indonesia.) Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng đã trải qua nhiều bước thăng trầm : một số cây ăn trái như Mận Tam hoa Sơn la, Lào Cai, vải Bắc Giang, Nhãn Tiền giang đã được phát triển thành vùng lớn nhưng những năm qua việc tiêu thụ lại gặp nhiều khó khăn, giá thấp, người dân một số vùng đã có ý định phá bỏ chặt cây. Một số trái cây có thị trường tiêu thụ nhưng chất lượng và giá cả chưa đáp ứng yêu cầu thị trường : chuối,  xoài, măng cụt… Một số trái cây khác có tiềm năng phát triển xuất khẩu thì tốc độ phát triển lại quá chậm, không đủ cung cấp cho các nhà máy chế biến như Dứa (khóm).

             Nhu cầu về tiêu thụ rau quả thế giới dự báo tăng 3,5%  đặc biệt là nhu cầu nhập khẩu quả nhiệt đới  của các nước phát triển.

            Để tiêu thụ được rau quả thông thường phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:

            - Giá cả cạnh tranh: hầu như các trái cây VN đều có giá cao hơn so với cùng khu vực: xoài, nhãn, sầu riêng, đu đủ, cam, …Hiện nay chỉ có dứa và vải là còn có khả năng cạnh tranh được, Dứa khu vực phía Bắc có khả năng cạnh tranh cao hơn phía Nam. ( hiện nay chỉ có dứa là có khả năng cạnh tranh về giá nhất là các vùng sản xuất mới hình thành ở các tỉnh phía Bắc : Đồng giao Ninh Bình, Lao Cai…Hiện nay chi phí vật tư đầu vào của trái cây đóng hộp tăng liên tục :đường, hộp sắt, vận tải…trong khi giá XK không tăng
            - Sản phẩm phải đặc thù, độc đáo, phù hợp thị hiếu (ngon, bổ dưỡng, tiện lợi, phù hợp thị hiếu)
            - Chất lượng tốt, ổn định ( sạch, đẹp, đồng đều…)
            - Sản lượng đủ lớn, tập trung (hiện nay chỉ có thanh long đáp ứng được yêu cầu này)
- An toàn (dư lượng thuốc sâu, hàm lượng các chất độc hại ngày càng gắt, yêu cầu chứng nhận HACCP, Eurepgap…)

II.Giải pháp sản xuất và tiêu thụ
   A- Nhóm giải pháp về sản xuất :

      1- Xác định và qui hoạch vùng sản xuất và chủng loại trái cây có lợi thế cạnh tranh :
            Cần khảo sát qui hoạch chính xác và ổn định vùng sản xuất rau quả đặc sản chủ lực, phù hợp sinh thái vùng. Tổ chức sản xuất rau quả tập trung, tạo nguồn hàng lớn và ổn định, có giá thành thấp và có chất lượng, có điều kiện áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn vệ sinh thực phẩm.
            Chúng tôi thấy có thể xây dựng một số vùng rau quả đặc sản như sau : Dứa là sản phẩm chủ lực (Kiên giang-Tiền giang - Đồng giao, Ninh bình – Lâm Ha,Lâm đồng – Hà tĩnh – Gia lai) Thanh long (Bình thuận), Vải thiều ( Bắc giang, Hải dương), Xoài (Tiền giang, Đồng Tháp) Vú sữa (Vĩnh kim Tiền giang) Măng cụt (Bến tre, Bình dương), Bưởi 5 roi, da xanh (Vĩnh long, Bến tre, Đoan hùng), Cam (Vinh, Bố hạ, Tiền Giang), Quýt hồng (Lai Vung-Đồng tháp)

      2- Nâng cao chất lượng giống, ứng dụng giải pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, sạch bệnh :
            Hoàn thiện, nâng cao các giống tiêu biểu của từng chủng loại quả đặc sản của từng vùng.
Lai tạo, quản lý và ứng dụng các giống mới ( TCTy đang nghiêm cứu về dứa lai). Khi hội nhập AFTA đây là cuộc chiến giữa các nhà sản xuất giống.
            Quản lý , nâng cao chất lượng các Trung tâm, cơ sở nghiên cứu và sản xuất giống.
            Ứng dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến và an toàn vệ sinh thực phẩm: chăm bón, tưới tiêu, xử lý phòng trừ sâu bệnh (ruồi đục quả) chủ động điều khiển thời gian thu hoạch v v v…

      3- Ứng dụng rộng rãi công nghệ bảo quản sau thu hoạch:
Phổ biến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chu trình sản xuất tươi, bảo quản lâu, vận chuyển xa và tuổi thọ tiêu thụ kéo dài (vải, thanh long đường biển, nhãn…). Cần thiết phải chi phí để mua các công nghệ và thiết bị liên quan để xử lý.
            Tổ chức nhà đóng gói (packing house) tiên tiến.
            Mạnh dạn mua công nghệ và thiết bị xử lý ruồi đục quả, thiết bị phân tích dư lượng thuốc sâu.

   B- Nhóm giải pháp về tiêu thụ:

            Khi mua hàng, người mua đòi hỏi giá cả cạnh tranh, chất lượng hợp lý. Rõ ràng chúng ta phải chấp nhận đối mặt với cạnh tranh khi xu thế nhập kinh tế thế giới ngày càng đến gần, vấn đề đặt ra là làm thế nào nâng cao được năng lực cạnh tranh, cạnh tranh ngay trên thị trường của chính mình và cạnh tranh trong xuất khẩu.

      1-Phát triển thị trường xuất khẩu dựa vào phát triển thị trường nội địa :
Kinh nghiệm các nước cũng như thực tế các năm cho thấy muốn cạnh tranh tốt để xuất khẩu tất yếu phải cạnh tranh tốt trên thị trường nội địa, thị trường xuất khẩu phải dựa vào thị trường nội địa, mở rộng thị trường xuất khẩu là mũi nhọn chủ lực tác động tích cực trở lại đối với thị trường nội địa. Phát triển cả 2 thị trường phải gắn liền nhau. Thực tiễn cho thấy các tỉnh phía Bắc thu hoạch trên trăm nghìn tấn vải thiều mỗi năm, trong khi xuất khẩu chỉ được 7000 - 8000 tấn / năm, sản lượng còn lại phải tiêu thụ trong nước. Về dứa, sản lượng bình quân hiện nay khoảng 800.000 tấn nhưng chỉ tiêu thụ xuất khẩu được 10-12% sản lượng, còn lại cũng tiêu thụ trong nước.

      2- Ưu tiên cơ cấu tiêu thụ tươi trước sau đó là chế biến:
Tiêu thụ rau quả dưới dạng tươi có hiệu quả cao nhất, vấn đề đặt ra là không thể tiêu thụ toàn bộ dưới dạng tươi với sản lượng lớn mà phải có chế biến (đây cũng là một biện pháp bảo quản) nhất là đối với những chủng loại có sản lượng tương đối lớn hoặc thời vụ thu hoạch ngắn (dứa, vải, chôm chôm). Ngoài ra còn tận dụng được những trái cây có phẩm cấp thấp nên không thể xuất tươi được. Công nghiệp chế biến còn góp phần làm phong phú đa dạng hoá nhiều sản phẩm hơn (rau + quả, hải sản + rau + quả, quả + tinh bột).
Kinh nghiệm chúng tôi làm theo thứ tự ưu tiên : tươi Ú đông lạnh Ú đóng hộp hoặc lọ Ú sấy khô Ú ép nước (cô đặc, puree)

      3- Phát triển hệ thống lưu thông phân phối :
            + Phát triển cơ sở hạ tầng (luồng giao thông, phương tiện vận chuyển, kho mát, kệ mát bảo quản, bảo vệ thực vật, thiết bị kiểm tra độ an toàn, ưu tiên bến bãi…)
            + Phát huy vai trò một số chợ đầu mối rau quả và nông sản.
            + Phổ biến kiến thức về kỹ thuật bảo quản, an toàn vệ sinh thực phẩm.
            + Tuyên truyền phổ biến quảng bá lợi ích khi sử dụng rau quả.

      4- Xây dựng quan hệ sản xuất – tiêu thụ phù hợp:
“anh nói tôi mua thấp, tôi nói anh bán cao” nghịch lý này thường xảy ra trong thực tế vì đến nay chúng ta thường lấygiá thị trường nội địa để làm chuẩn. Sáp tới phải cãnh tranh khi hội nhập, rõ ràng “chuẩn” để so sánh không thể là như bay giờ được. Vì vậy cần phải xây dựng cho được mối quan hệ sản xuất phù hợp mới có thể phát triển được sản xuất trái cây nhiệt đới của VN.
 Xây dựng quan hệ sản xuất – tiêu thụ phù hợp trên cơ sở tạo thế mạnh cạnh tranh và cùng chia sẽ lợi ích cũng như rủi ro giữa doanh nghiệp và nhà vướn (chủ trang trại, HTX). (nhà vướn biết làm thế nào để có trái cây tốt và nhiều nhưng không biết tiêu thụ ở đâu, nhà doanh nghiệp thì ngược lại – nhà vườn chịu trách nhiệm về chất lượng từ lúc bắt đầu trồng cho tới khi tiêu thụ xong sản phẩm – nhà doanh nghiệp chịu trách nhiệm tiêu thụ từ lúc bắt đầu trồng cho tới khi tiêu thụ xong).
Mô hình khép kín (nông công nghiệp như CTy Đồng giao, Ninh bình) hoặc  cùng góp vốn sản xuất và tiêu thụ (công ty cổ phần)        .
Nâng cao tính khả thi về các chính sách thực hiện hợp đồng thu mua nông sản với nông dân, nhà vườn theo QĐ80/TTg của Thủ tướng Chí nh phủ.
           
      5- Thị trường xuất khẩu trái cây nhiệt đới :
Theo dự báo của Tổ chức Lương Nông thế giới (FAO), trong thời kỳ 2001 – 2010 nhu cầu tiêu thụ quả hàng năm tăng bình quân 3,6%, trong khi sản lượng chỉ tăng 2,8%. Việc tiêu thụ rau quả ngày càng được khuyến khích chủ yếu do yếu tố có lợi sức khỏe, (one fruit per day, doctor go away!)
Theo số liệu chúng tôi có được, sản lượng cây ăn quả nhiệt đới bình quân  thế giới đạt khoảng 69 triệu tấn, trong đó Xoài chiếm 38-40% , tiếp theo là Dứa chiếm khoảng 20-21% (khoảng 14 triệu tấn),Thái lan là quốc gia sản xuất lớn nhất, chiếm 16% tổng sản lượng toàn cầu, kế tiếp là Philippine chiếm 12%. Nhìn chung, Dứa vẫn tiếp tục giữ vị trí chi phối trên thị trường quả nhiệt đới, chiếm 45% -47% tổng giá trị xuất khẩu toàn cầu, chủ yếu là chế biến, kế tiếp là Xoài, chiếm 24%, Bơ : 11% , Đu đủ : 8%, các loại khác 9% -10%. Xoài mặc dù có sản lượng lớn nhất nhưng giá trị trao đổi lại thấp hơn Dứa cho thấy giá cả tiêu thụ rất thấp.

Tạp chí Food Marketing dự báo xu hướng phát triển 8 thị hiếu tiêu dùng sản phẩm rau quả đến năm 2010 như sau:
1- Nhu cầu về sản phẩm tiện lợi (convenience) sẽ lớn hơn:
Do người dân ngày càng bận bịu với công việc, tình trạng người độc thân tăng lên, giá nhân công cao …
2- Sản phẩm ngày càng đa dạng (do công nghiệp chế biến ngày càng phát triển)
3- Nhu cầu tiêu dùng trái cây nhập khẩu, đặc sản tăng.
Đến những năm 1970, việc tiêu thụ trái cây đặc sản nhập khẩu ở các nước phát triển khó chấp nhận dù lượng hàng nhập vào ít chỉ để phục vụ cộng đồng thiểu số , việc tăng số lượng dân thiểu số ở các nước phát triển cũng được xem như là yếu tố làm phát triển buôn bán trái cây đặc sản nhiệt đới . Ngày nay người dân bản xứ ngày càng trở nên quen thuộc với trái cây đặc sản này khi nó thường xuyên được trưng bày giới thiệu quảng cáo đóng gói lẻ trong bao bì tiêu chuẩn có hướng dẫn sử dụng và được trưng bày ngày càng nhiều trên các kệ hàng của các siêu thị lớn.
4- Nhu cầu về sản phẩm an toàn, sản phẩm hữu cơ (organic) tăng .
Do tác động e ngại về an toàn thực phẩm, thâm canh ảnh hưởng môi trường cùng với nhận thức ngày càng hiểu biết về dinh dưỡng và chế độ ăn kiêng làm nổi nhu cầu về sản phẩm hữu cơ tăng mạnh mẽ nhất là từ khi có hướng dẫn Directive EC. Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hữu cơ đang bùng nổ ở một số nước châu Âu nhất là ở Anh, Thụy điển và Hoà lan có tốc độ tăng trưởng 20% / năm. Giá bán sản phẩm hữu cơ thường cao hơn sản phẩm thông thường từ 15 – 20%. Mức chênh lệch này có xuhướng giảm dần do ngày càng có nhiều sản phẩm hữu cơ. Đây cũng là cơ hội mà cũng là thách thức lớn đối với các nhà sản xuất kinh doanh rau quả Việt nam.  Việc chứng nhận sản phẩm an toàn hoặc hữu cơ phải thường được các tổ chức quốc tế cấp như: Eurepgap, IMO hay ECO.v.v..
5- Sản phẩm chế biến sẵn, ăn liền (ready-cooked, take-out) tăng
6- Phát triển thương hiệu.
7- Thị trường phân cực nhiều hơn (hàng cao cấp - hàng bình dân)
8- Yêu cầu thông tin về sản phẩm trên nhãn ngày càng công khai, trung thực và cụ thể:
Sau vụ bò điên, dioxine…người tiêu dùng đòi hỏi phải công khai qui trình sản xuất, nguồn gốc rõ ràng trên nhãn hiệu, phải áp dụng qui trình quản lý và kiểm soát tác động trong toàn bộ qui trình sản xuất chế biến thực phẩm. Hiện nay khách hàng đòi hỏi phải có chứng nhận HACCP, SQF…(safe Quality Food)

III. Kiến nghị với nhà nước

- Tiến hành công tác qui hoạch, xác định ùng sản xuất và chủng loại rau quả có lợi thế cạnh tranh.
- Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về công tác nâng cao chất lượng giống, tổ chức sản xuất, lai tạo và nhập các giống có chất lượng cao.
- Tạo điều kiện thuận lợi tổ chức sản xuất rau quả tập trung, tạo nguồn cung cấp lớn và ổn định, có điều kiện áp dụng và kiểm soát bảovệ thực vật cũng như an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Cần có những chính sách hỗ trợ thích đáng về khuyến khích xuất khẩu, vốn vay, thuế, cước phí vận tải chi chứng nhận quy trình quản lý chất lượng, …đối đầu tư, sản xuất tiêu thụ rau quả. Có chính sách đặc biệt ưu đãi đối với đầu tư sản xuất sản phẩm hữu cơ.
- Tuyên truyền phổ biến kỹ thuật canh tác nâng cao chất lượng, bảo vệ thực vật va an toàn vệ sinh thực phẩm, lợi ích tiêu dùng trái cây.
- Củng cố và phát huy tác dụng của các kho bảo quản, kho trung chuyển và các chợ đầu mối.
- Hoàn thiện các chế tài nhằm thực hiện tốt Quyết Định 80/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Tiếp tục hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, giới thiệu trưng bày sản phẩm và xây dựng thương hiệu trái cây Việt nam.
- Tăng cường vai trò Hiệp hội trái cây và phát huy mối quan hệ giữa thành viên và Hiệp hội.


Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 1 năm 2009